Vướng mắc trong việc mượn hồ sơ của Tòa án cấp sơ thẩm qua công tác kiểm sát bản án, quyết định

Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên….”
Tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số  biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: lấy lời khai của đương sự, người làm chứng…”
Việc thu thập tài liệu, chứng cứ phải được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, nếu không thì tài liệu thu thập đó không có giá trị pháp lý. Việc thu thập chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng và là cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án. Chỉ khi thu thập đầy đủ chứng cứ thì Tòa án mới có đủ căn cứ để giải quyết vụ án.
Thực tế qua kiểm sát bản án tại Tòa án cấp sơ thẩm nhận thấy: Tòa án sơ thẩm thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình về việc “xin ly hôn”. Tóm tắt như sau: Nội dung theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: “….quá trình chung sống có 01 con chung sinh ngày 16.8.2017, lý do xin ly hôn là vì chồng thường xuyên uống rượu về đánh đập, tình trạng hôn nhân đã có nhiều mâu thuẫn dẫn đến ly thân gần 02 năm nay, nay yêu cầu được ly hôn, được nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng…”. Trường hợp này nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn không có lời trình bày, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không có sự tham gia của Kiểm sát viên.
Về phần nhận định của Tòa án: “Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, do giữa vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, hơn nữa vợ chồng đã ly thân….Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn…Về con chung nguyên đơn được quyền nuôi con chung…về cấp dưỡng nuôi con do không yêu cầu nên không xem xét…”
Tương tự trường hợp trên tại một vụ án khác Tòa án cấp sơ thẩm cũng thụ lý quan hệ pháp luật về “tranh chấp xin ly hôn”. Tóm tắt như sau: Nội dung theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: “ …vợ chồng có đăng ký kết hôn, có 02 con chung…lý do xin ly hôn là chồng thường xuyên say xỉn và đánh đập…về con chung nguyên đơn yêu cầu nuôi 01 con chung, giao 01 con chung cho chồng nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng…tài sản và nợ không có”. Nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt, bị đơn thì không có lời trình bày. Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn về hôn nhân, về con chung, về cấp dưỡng, tài sản và nợ không yêu cầu không xem xét.
Như vậy, cả 02 vụ án nói trên đều thuộc trường hợp luật định Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là vi phạm Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối chiếu với khoản 4 Điều 6 Quy định 399 về Quy trình, kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự của Tòa án do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thì trường hợp này Viện kiểm sát ban hành văn bản chuyển hồ sơ vụ án để nghiên cứu, xem xét, làm rõ vi phạm để thực hiện quyền kiến nghị. Tuy nhiên, tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2016 Quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì: “Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để Viện kiểm sát xem xét việc kháng nghị”.
Qua thực hiện công tác kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự cho thấy việc quy định như trên dẫn đến công tác phối hợp bị hạn chế trong việc mượn hồ sơ để nghiên cứu còn vướng mắc như trên cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Mỹ Phượng

Nguồn tin: Viện KSND thành phố Trà Vinh